A. THUẦN CHÍNH THẬP NHỊ THỦ
Thuần Chính Thập Nhị Thủ
Tác giả : Thủy Tiên Công Chúa (1254 – 1329)
Xuất xứ : Vạn Pháp Quy Nguyên và Đông-A Di Sự (phần Vũ-kinh)
Dịch, biên tập chú giải : Trần Đại Sỹ
Với sự trợ giúp của Võ sư Trần Huy Quyền, Võ sư Lê Như Bá
Copyright by Trần Đại Sỹ – Trần Huy Quyền – Lê Như Bá
Các soạn giả giữ bản quyền.
Tout droits réservés. - All rights reserved.
Tuyệt đối cấm trích dịch, in lại, sao bản chụp hình,nếu không có sự đồng ý của dịch giả
- Ban biên tập đặc san Liên đoàn Vovinam Việt Võ Đạo Canada đã được sự cho phép của Bác sỹ Trần Đại Sỹ và Vs Lê Như Bá trích đăng hai trang đầu phần giới thiệu về Thuần chính thập nhị thủ
- Bác sỹ Trần Đại Sỹ là hậu duệ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Trong gia đình ông, các em ông điều là các Võ sư cao cấp của Việt Võ Đạo: Vs Trần Bản Quế, Cố Vs Trần Huy Phong, cố Vs Trần Huy Quyền, Vs Trần Nguyên Đạo.
1. NGUỒN GỐC
Năm 1280, quân Mông Cổ chuẩn bị sang xâm lăng Việt Nam. Vua ra lệnh cho các vương hầu, tướng sĩ, võ phái đều được mộ binh, tổ chức huấn luyện. Trong hoàng cung, bà Linh Từ (Vương phi của Trung vũ đại vương, lĩnh Thái sư Trần Thủ Độ) họp tất cả các phi tần, công chúa, cung nga, quận chúa lại và ban huấn từ :
"Giặc sắp đến, các người phải luyện tập võ nghệ để có thể xuất trận chống xâm lăng. Nếu võ không tinh thì ít ra cũng tự bảo vệ được bản thân, không làm bận đến tướng sĩ để bảo vệ"
Bà chỉ định : Khâm Từ hoàng hậu, Thiên Thụy công chúa (vương phi Hưng Võ Vương, con Hưng Đạo Vương) và Thủy Tiên Công chúa dạy các cung phi, cung nga. Còn công chúa, quận chúa thì đích thân bà dạy.
Khi dạy võ, Thủy Tiên Công-chúa thấy dạy cương quyền cho phái nữ để chuẩn bị chống với binh sĩ Mông Cổ là loại người to lớn, dũng mãnh, thì khó mà bảo toàn thân thể. Vì vậy bà mới tìm ra tất cả thế nhu, chống lại đủ hình thức tấn công của đối thủ. Sau khi thắng Mông Cổ, bà chép lại thành bộ "Thuần Chính Thập Nhị Thủ" là những phương pháp hiền hậu để tỏ ra mình là người trinh tĩnh, tiết hạnh.
Năm Xương Phù thứ 11 (1387) Thái sư Trần Nguyên Đán chép vào bộ Đông A Di Sự, chú thích, vẽ đồ hình đầy đủ, và cho khắc bản in. Nay còn lưu truyền.
2. TIỂU SỬ TÁC GIẢ
Thủy Tiên Công Chúa là dưỡng nữ Hưng Đạo Vương. Không rõ bà xuất thân từ đâu, cha mẹ là ai. Chỉ biết bà được Hưng Đạo Vương yêu thương nhận làm con nuôi. Bà sinh niên hiệu Nguyên Phong thứ tư (1254) đời vua Trần Thái Tông. Lên sáu tuổi bắt đầu học võ với Hưng Đạo Vương. Sau này bà học với Khâm Từ hoàng hậu (vợ vua Nhân Tông, và là con đẻ Hưng Đạo Vương). Nhưng sự thực tất cả võ công và nội công của bà do Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng và Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản dạy. Hưng Đạo Vương gả bà cho danh tướng Phạm Ngũ Lão. Sử chép rằng võ công của bà được liệt vào hàng thứ 15 đời Trần, trong khi Phạm Ngũ Lão đứng hạng thứ 17, tức võ công thua bà hai bậc. Bà có công huấn luyện võ thuật cho toàn thể cung phi, cung nga đời Trần. Chính vì vậy, khi mà quân Mông Cổ chiếm Thăng Long, các cung phi, cung nga tự bảo vệ, di tản an toàn, không cần hộ tống.
Tuy nhiên, bà không hoàn toàn đi theo hoàng cung. Bà theo sát phu quân là danh tướng Phạm Ngũ Lão đánh trận Chương Dương, Nội Bàng, sau này cũng chính bà theo phu quân chinh phạt Ai Lao và Chiêm Thành.
Sách Đông A Di Sự, Thủy Tiên Công Chúa liệt truyện chép :
"Công chúa mặt đẹp như ngọc, dáng người thanh nhã, tiếng nói khoan thai, lòng đầy nhân ái, nhưng khi xung trận thì dũng mãnh phi thường".
Bộ Mông Thát Cáo Lục chép :
"Vợ tướng họ Phạm là con gái của Hưng Đạo Vương, không biết tên là gì, tước phong Thủy Tiên Công Chúa. Thủy Tiên dáng người thanh thoát, mặt đẹp ; nói thông thạo tiếng Mông Cổ âm Hoa Lâm, tiếng Hán âm Lâm An. Khi lâm trận đối đáp với tướng Mông Cổ bằng ngôn từ nhẹ nhàng, nhưng khi giao tranh thì dũng mãnh phi thường. Nhiều tướng Mông Cổ không đề phòng, bị Thủy Tiên giết. Tướng Nguyễn Linh Nhan bị Thủy Tiên bắt sống".
Lưu ý độc giả, trong tất cả các sách của Trung-quốc viết về cuộc chiến Mông Việt, họ gọi thẳng tên các vua Trần. Như vua Trần Thái Tông họ gọi là Trần Cảnh, trong khi họ gọi Trần Quốc Tuấn bằng tước Hưng Đạo Vương, để tỏ lòng kính trọng.
Công chúa hoăng vào niên hiệu Khai Thái năm thứ sáu đời Trần Minh Tông (1329), thọ 75 tuổi. Huyền sử Việt Nam kể rằng sau khi mất bà hiển thánh. Cho nên ngày nay tại tất cả các đền thờ Hưng Đạo Vương trên toàn Việt Nam đều có tượng thờ bà. Tại đền thờ nói đến Tứ Vị Vương Tử, Nhị Vị Vương Cô, bà là một trong Nhị Vương Cô. Chính bà đã dùng một chiêu trong Thuần Chính Thập Nhị Thủ bắt một danh tướng Mông Cổ là Nguyễn Linh Nhan, cho nên ngày nay mỗi khi về đồng bà, người ta còn diễn lại tích này.
Về võ học, bà có để lại các phát minh sau :
- Thuần Chính Thập Nhị Thủ,
- Thủy Tiên Liên Hoa quyền,
- Thủy Tiên Trường Xuân Công,
- Thủy Tiên Trị Liệu Thủ (phương pháp dùng chỉ lực chữa bệnh, rất thần diệu).(Thất truyền)
B. LONG HỔ KHÔNG HỒNG
Thầy Vạn Thanh tên thật là Nguyễn Đông Hải, còn rất trẻ, chỉ mới 35 tuổi, sinh ở xã Nhơn Hoà, huyện An Nhơn, Bình Định. Năm 12 tuổi, Đông Hải đã thí phát xuất gia vào chốn cửa thiền. Sư phụ Tịnh Quang lúc ấy chỉ nhận vỏn vẹn hai đệ tử, một là Vạn Lạc hiện đang trụ trì chùa Lộc Sơn, và người thứ hai tên là Vạn Thanh.
Sau 4 năm chuyên tâm học kinh kệ, một đêm nọ Vạn Thanh được sư phụ gọi riêng ra và bảo :"Thầy thấy con có tư chất, tính tình điềm đạm, không khoe khoang, có thể học võ được. Nhưng điều quan trọng nhất là con có thích học không?". Vạn Thanh đáp: "Được thầy thương truyền dạy con rất thích ạ". Thế là lúc nửa đêm, một thầy một trò huỳnh huỵch luyện thập bát ban. Xen giửa những buổi thị phạm là những bài học khẩu quyết bằng tiếng Hán cổ, là những lần thầy cầm tay trò rị mọ tô theo từng nét bút những chữ Hán loằng ngoằng, là những câu chuyện về lai lịch của "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp" lẫn xuất xứ của môn phái Long Hổ Không Hồng.
Vào thời Hậu Lê, ở kinh thành Thăng Long có một nhà sư rất giỏi võ nghệ. Ông đã bỏ công suốt một đời để lặn lội sưu tầm góp nhặt binh thư võ thuật của các bậc danh tướng. Với sở học của mình cộng với những gì sưu tầm được, ông soạn ra pho bí kíp "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp" (tạm dịch nghĩa là: sao chép binh thư võ thuật của những vị tướng qua nhiều đời khác nhau). Hoàn tất pho sách, sợ bị thất truyền, ông lập ra môn phái Long Hổ Không Hồng: Long và Hổ tượng trưng cho "uy" và "mãnh"; không hồng là bao la như ánh mặt trời. Theo môn qui của Long Hổ Không Hồng, mỗi đời chỉ truyền dạy cho một đệ tử, và tên hiệu của những người trong môn phái phải bắt đầu từ chữ "Hư". Nhà sư sáng lập Long Hổ Không Hồng có tên hiệu là Hư Minh. "Lục tướng tằng vương..." ghi lại rất nhiều những bài võ của các danh tướng Việt Nam như Đinh Bộ Lĩnh (Đinh), Lê Hoàn (Tiền Lê), Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành (Lý), Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão (Trần)...
Chiến tranh loạn lạc thời Trịnh - Nguyễn phân tranh khiến đệ tử các đời của Long Hổ Không Hồng đi dần xuống Nam, và đến thời nhà Tây Sơn thì đã truyền được đến đời thứ tám cho Nguyễn Trung Như với tên hiệu là Hư Linh Ẩn. Sau khi Gia Long diệt được Tây Sơn, bộ "Lục tướng tằng vương..." bị hủy diệt như số phận chung của những pho sách võ khác của đất Bình Định. Và kể từ đây nó chỉ được truyền lại qua trí nhớ của các đời đệ tử Long Hổ Không Hồng. Tính đến thượng tọa Thích Tịnh Quang là đời thứ 12 với tên gọi Hư Linh Thông (đã mất năm 1990), và truyền nhân đời thứ 13 chính là Vạn Thanh - Hư Linh Tử.
Dù chỉ được truyền lại qua khẩu quyết, nhưng "Lục tướng tằng vương..." cũng được Hư Linh Tử ghi lại gần 150 bài. Tuy nhiên, để nắm hết được lẽ huyền diệu của pho bí kíp này, anh biết mình còn thiếu: vốn chữ Hán cổ còn yếu, sở học về triết lý phương Đông còn non. Thế là năm 26 tuổi, Hư Linh Tử một mình một tay nải vào Sài Gòn tìm học ở khoa Đông Nam Á các trường đại học Sư phạm, Tổng hợp.
Sau hơn 4 năm đèn sách, Hư Linh Tử đã dần dần lĩnh hội được sự ảo diệu của "Lục tướng tằng vương...", mới thấy được thế nào là trong hư có thực, trong thực có hư của bài "Nghiêm thương" (tương truyền của Nguyễn Huệ) mà trong bí kíp gọi là "sinh linh thao", thế nào là sự cương trực của bài "kích sinh thao", thể hiện trong bài "Lôi long đao" tương truyền của Trần Hưng Đạo. Giờ đây, anh cũng mới thấu hiểu mỗi bài võ trong "Lục tướng tằng vương..." đều có hai mục đích:
1- Được áp dụng cho chiến trận khi nhìn nó dưới góc độ của bát quái đồ hình dựng,
2- Một bài múa biểu diễn, rèn sức khoẻ khi tập theo bát quái đồ hình nằm.
Năm 1997, tròn 30 tuổi, Vạn Thanh - Hư Linh Tử hết duyên với cửa Phật. Anh hạ sơn và từ đây trở thành võ sư Đông Hải - Hư Linh Tử. Cuối năm 1999, Đông Hải - Hư Linh Tử về làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển võ cổ truyền của Sở Thể dục thể thao Bình Định. Bao nhiêu sở học nắm được từ "Lục tướng tằng vương..." anh dốc hết cho các học trò, và đem lại rất nhiều huy chương vàng quốc gia. Chưa kể khá nhiều các đệ tử của anh đã đi biểu diễn võ cổ truyền Việt Nam tận Ấn Độ, Tây Ban Nha, Nga... Từ lò võ chùa Long Phước đã lần lượt xuất hiện hầu hết các võ sĩ cho đội tuyển võ cổ truyền Bình Định (luôn chiếm tỷ lệ 80% cho đến tận bây giờ) với những tên tuổi thành danh tại các giải vô địch quốc gia như Nguyễn Đức Thắng với bài U Linh Thương (thời Lý), Nguyễn Văn Cảnh với bài Tru Hồn Kiếm (thời Lê), Võ Văn Tính với bài Chấn Lôi Âm Tiên (thời Hậu Lê), Trần Duy Linh với bài Lôi Long Đao (thời Trần)...
C. VÕ PHÁI NHẤT NAM:
Nhất nam là một môn phái võ thuật có lịch sử phát triển lâu đời của dân tộc Việt Nam. Đất tổ của môn phái nằm trên vùng đất cổ châu Hoan , châu Ái ( tức vùng Thanh hoá , Nghệ an hiện nay ) địa thế như gốc một chiếc quạt xoè ra.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, các môn võ , bài võ cổ đã lưu truyền ẩn hiện trong dân gian, trong các dòng họ trau dồi , sáng tạo , giao lưu tiếp thụ những tinh hoa của các môn võ của các dân tộc khác mà hình thành nên những đặc điểm riêng biệt phù hợp với thể tạng và tầm vóc của người Việt nam.
Phái võ Nhất nam là một môn phái võ có tính qui mô và tính tổ chức cao. Hệ thống môn công đồ sộ , toàn diện: quyền , binh khí, công phu luyện nội , ngoại ... cùng với một hệ thống lý luận về tâm pháp, yếu pháp làm cơ sở và nền tảng lý luận cho người luyện tập, giao đấu và đối nhân xử thế. Hệ thống môn công của phái Nhất Nam được đúc kết, sáng tạo dựa trên sự vận hành của khí huyết , những đặc điểm tâm - sinh lý và cơ chế vận động cơ bắp của con người ; huy động tối đa sức mạnh của bản thân, lợi dụng sức mạnh của đối phương để đánh đối phương.
Phái Nhất Nam đưa ra các bài tập đặc thù có tính liên tục trong các đòn thế chuyên để luyện các môn công như: tay xà, tay trảo, tay đao, tay quyền... hoặc đặc dị hơn là các bài " Ma quyền " , " Ảo quyền " , " Hoa quyền " ... về binh khí có 9 bài kiếm, 9 bài côn, 5 bài rìu... ngoài ra còn có một môn binh khí độc đáo nữa là " nhung thuật " chuyên dĩ nhu chế cương, sử dụng giải lụa 2 đầu có vật nặng để chiến đấu ; vừa có sự mềm mại uyển chuyển trói bắt binh khí dối phương, vừa có thể công phá mục tiêu với sức khó có binh khí nào đạt tới được.
Đồng thời với việc học tập và rèn luyện quyền cước , binh khí, công phu nội , ngoại... người học võ Nhất Nam cũng được học tập cả Tâm pháp ; nó là nhưng đúc kết kinh nghiệm xương máu trong chiến đấu , tập luyện và đối nhân xử thế, với nguyên tắc :
-Học lấy tinh, không cần nhiều
-Hiểu cần nhiều nhưng luyện ít
-Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
-Giác đầu thành chân thành tay
-Cần chí hơn lý ở đầu
Dù công hay thủ người luyện võ không được coi nhẹ môn công nào, từ bộ tay, bộ chân, thân pháp, tấn pháp, thủ pháp, công pháp đến kỹ thuật hoá giải, biến hoá chiêu thức... một thê chứa trăm vạn thế, trăm vạn thế thu vào một thế; dùng tĩnh chế động, dùng động chế tĩnh ; địch không động ta không động, địch động ta động trước, đòn đi sau nhưng đến trước ; dùng ít sức nhưng vẫn đạt hiệu quả cao...
Trong phái Nhất Nam mỗi một đòn thế đều được phân tích kỹ lưỡng để hiểu được sự hay dở, của mỗi đòn thế; trường hợp nào , khoảng cách nào thì đem lại hiệu qủa cao nhất, khi tấn công mà bị phản công thì phòng thủ ra sao... Do đó việc dạy và luyện võ của phái Nhất nam trên tinh thần :
-Dạy chí trước môn công
-Dạy ý trước tay chân
-Dạy chế công, lấy công làm gốc
-Dạy chế thủ, lấy thủ làm gốc
-Biết chế chống công, biết công được chế
Trong giao đấu cũng như trong cuộc sống thường nhật kẻ luyện võ cần có những nguyên tắc, lý tưởng để chỉ đạo tư tưởng và hành động ; người luyện võ cần hiểu được Đạo của tự nhiên, trào lưu của xã hội, tâm sinh lý con người như vậy mới có thể đưa ra phương châm sử lý đúng đắn trong mọi tình huống.
" Khéo thua không bị chết
Giỏi đánh không sợ thua
Giỏi bày trận không cần đánh
Giỏi cầm quyền không cần bày trận
Hiểu đạo không cần dụng binh ."
Hữu phước (sưu tầm)
Nguồn: vovinamcanada
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét