Võ phái ĐOÀN LÂM VŨ

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

Bài Quyền: Yến Phi

Bài Quyền: Yến Phi

Trong võ cổ truyển Bình Định, bài Yến Phi cũng như bài Hùng Kê Quyền là chế tác của hai vị anh hùng áo vải Tây Sơn. Bài Hùng Kê Quyền do Nguyễn Lữ sáng tạo, còn bài Yến Phi do Nguyễn Huệ sáng tạo dựa vào các bài Thần Đồng, Lão Mai, Ngọc Trản để dành cho nghiã binh rèn tập trong giai đoạn đầu. Cả hai bài này đều lâm vào tình trạng ít được biết đến vì chỉ được truyền bá hạn chế vào thời gian trước đây. Ngay trong thuở sinh thời của Sư Trưởng môn phái Sa Long Cương Trương Thanh Đăng, hai bài này vẫn chỉ được dạy riêng cho con cháu chứ không phổ biến ra ngoài.
Hiện nay, võ sư trưởng tràng Sa Long Cương Lê Văn Vân và người đương nhiệm Chưởng Môn là võ sư Trương Bá Đương đưa cả hai bài quyền vào các chương trình rèn luyện của võ sinh với mong muốn tránh tình trạng bị mai một hoặc sai lạc. Bài Yến Phi được rèn luyện sau khi võ sinh đã học xong bài Thần Đồng, còn bài HùngKê Quyền dành cho cấp cao hơn. Bài Yến Phi thể hiện nét dịu dàng của loài chim Yến, với nhiều đặc tính độc đáo riêng của võ thuật cổ truyền Việt Nam.
Thiệu của bài Yến Phi được viết bằng chữ Nôm và theo thể thơ lục bát. Toàn bài như sau:



Bước vào biến thế Yến Phi
Tam câu tam đả tức thì làm xong
Rồi lại biến thế Thần Đồng
Rồi về Yến bãi chực phòng song phi
Phi rồi cuốn cánh nép vi
Lập thế bộ hổ hồi về Triệu Công
Ví dù nó có lướt xông
Thì ta biến thế Phượng Hoàng một chân
Bái tổ sư lập như tiền

CHIẾN THUẬT “ROI LIÊN QUYỀN NỘI” TRONG VÕ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

                              CHIẾN THUẬT “ROI LIÊN QUYỀN NỘI”
                            TRONG VÕ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
                                                                            Võ sư TRƯƠNG QUANG NHÂN
                                                                         Hội Võ thuật Cổ truyền Quảng Nam
Võ cổ truyền Việt Nam – Phương thức truyền dạy đặc biệt, hiệu quả
Đi suốt chiều dài lịch sử, Võ cổ truyền Việt Nam luôn được tiền nhân gìn giữ, bảo lưu, phát triển và sử dụng một cách hiệu quả, không ngừng có những đóng góp to lớn, tích cực vào công cuộc dựng nước và giữ nước, vào sự nghiệp chung của dân tộc.
Võ cổ truyền Việt Nam – Di sản Văn hoá thể thao vô giá của dân tộc, do các tiền nhân võ nghiệp dày công khai lập, tạo dựng – Được các thế hệ đương thời tiếp nhận một cách trân trọng; Ra sức vun đắp, tô bồi và truyền dạy cho các thế hệ kế tục, tích cực góp phần giáo dục các năng lực thể chất và tinh thần cho các thế hệ tương lai – Đào tạo các thế hệ trẻ thành những công dân đất Việt tráng kiện về thể chất, lành mạnh về tinh thần, đủ tâm thế, sẵn sàng thay thế các thế hệ cha anh tham gia vào cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu; Luôn hành động vì những mục tiêu cao cả, vì lợi ích quốc gia dân tộc.

QUY CHẾ CHUYÊN MÔN CỦA LIÊN ĐOÀN VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM


LIÊN ĐOÀN

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số:   12    /QĐ- LĐVTCTVN               Hà Nội, ngày  8   tháng  7   năm 2008


QUYẾT ĐỊNH

Về việc sửa đổi, bổ sung quy chế chuyên môn
 của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam
 


CHỦ TỊCH LIÊN ĐOÀN VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Căn cứ nghị định 88/2003/ NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội;
Căn cứ Điều lệ (sửa đổi) của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam được Bộ Nội vụ phê duyệt tại quyết định số 259/QĐ-BNV ngày 27 tháng 3 năm 2007;
Căn cứ ý kiến thống nhất của cuộc họp Ban thường trực Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam mở rộng ngày 5 tháng 6 năm 2008;
Xét đề nghị của Trưởng ban kỹ thuật và Chánh Văn phòng Liên đoàn,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Chương II và Điều 8 của Chương III quy chế chuyên môn Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Uỷ viên Ban chấp hành, Chánh Văn phòng, Trưởng các ban, các tổ chức thành viên và Hội viên thuộc Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.


  Nơi nhận:
  - Như điều 3;
   - Lãnh đạo TCTDTT (để b/c);
  - Vụ TDTT Quần chúng (để b/c);
  - Lưu: VP, Danh Tuấn (75).
TM. BAN CHẤP HÀNH LIÊN ĐOÀN
CHỦ TỊCH


                        (đã ký)



Đoàn Văn Thao




SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 4, 5, 6, 7 CHƯƠNG II VÀ ĐIỀU 8 CHƯƠNG III
QUY CHẾ CHUYÊN MÔN CỦA LIÊN ĐOÀN VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
(Ban hành kèm theo Quyết định số  12 /QĐ - LĐVTCTVN ngày 8 tháng 7 năm            2008 của Chủ  tịch Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam)

LUẬT THI ĐẤU VÕ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO
-------
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------
Số: 771/QĐ-UBTDTT
Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2002

QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH LUẬT THI ĐẤU VÕ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
BỘ TRƯỞNG - CHỦ NHIỆM UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO
- Căn cứ Nghị định 15/CP ngày 02/03/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Căn cứ Nghị định số 03/1998/NĐ - CP ngày 06/01/1998 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Thể dục Thể Thao;
- Xét yêu cầu về phát triển và nâng cao thành tích môn VOVINAM ở nước ta.
- Căn cứ vào đề nghị của Ông Vụ trưởng Vụ Thể dục Thể thao Quần chúng

Thông tư Số: 11/2010/TT-BNV

BỘ NỘI VỤ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------
Số: 11/2010/TT-BNV
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2010

THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 45/2010/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ HỘI
Căn cứ Nghị định số 48/2008/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ;
Căn cứ Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội;
Bộ Nội vụ quy định chi tiết thi hành Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (sau đây gọi tắt là Nghị định số 45/2010/NĐ-CP) như sau:

Thông tư Số: 14/2011/TT-BVHTTDL

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO
VÀ DU LỊCH
--------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------
Số: 14/2011/TT-BVHTTDL
Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2011

THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ THỂ THAO TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG MÔN VÕ CỔ TRUYỀN VÀ VOVINAM
Căn cứ Luật thể dục, thể thao số 77/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 112/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thể dục, thể thao;
Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;
Căn cứ Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường,
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về điều kiện hoạt động của cơ sở thể thao tổ chức hoạt động môn Võ cổ truyền và Vovinam như sau:

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

THUẬT NÉM PHI TIÊU


Khó có thể nói đích xác thời điểm xuất hiện của thuật ném phi tiêu ở Nhật bản. Thời xa xưa, phụ nữ nhật đã biết sử dụng vài loại vũ khí gọn nhẹ để tự vệ như dao ngắn (Kaiken) vàcây trâm cài tóc (Kazashi). Dao vàtrâm thường dài độ 8-9cm vàtrong tầm gần, chúng có thể được ném đi như phi tiêu. Với kích thước nhỏ bé dễ cất dấu, mũi bén nhọn thường tẩm thuốc độc, một cây trâm cài tóc khi hữu sự trở nên vô cùng nguy hiểm. 


1. LỊCH SỬ CỦA THUẬT NÉM PHI TIÊU: 

Khó có thể nói đích xác thời điểm xuất hiện của thuật ném phi tiêu ở Nhật bản. Thời xa xưa, phụ nữ nhật đã biết sử dụng vài loại vũ khí gọn nhẹ để tự vệ như dao ngắn (Kaiken) vàcây trâm cài tóc (Kazashi). Dao vàtrâm thường dài độ 8-9cm vàtrong tầm gần, chúng có thể được ném đi như phi tiêu. Với kích thước nhỏ bé dễ cất dấu, mũi bén nhọn thường tẩm thuốc độc, một cây trâm cài tóc khi hữu sự trở nên vô cùng nguy hiểm. Thuật ném phi tiêu Shuriken-Jutsu (Shuriken: phi tiêu; Jutsu: nghệ thuật) bắt nguồn từ cách sử dụng những mũi dao nhọn làm bằng sắt hay thép dài từ 7-22cm. Sau đó là sự phát triển của đoản kiếm (Tanto) và cuối cùng lại trở về với phi tiêu. Có thể đoản kiếm không được chuộng vì đắt tiền và không tiện để ném, không thể mang theo người nhiều như phi tiêu. Hiện nay võ Nhật có 3 trường phái sử dụng phi tiêu được biết đến nhiều nhất: Negishi-ryu, Shirai-ryu vàChisin-ryu. 

2. CÁC LOẠI PHI TIÊU KHÁC NHAU: 

Căn cứ vào hình dạng, chúng ta có khoảng 20 loại phi tiêu. Có loại nhọn 1 đầu, có loại nhọn cả 2 đầu; dài, ngắn, dầy, mỏng...khác nhau. Dù mang hình dáng nào, phi tiêu cũng phải đáp ứng được hai đòi hỏi tiên quyết: 

- Gọn, nhỏ dễ mang theo người. 

- Khi được ném ra, chúng phải khó thấy để né tránh. 

Điều nầy giải thích tại sao khi sử dụng phi tiêu, người ta thường để cho địch thủ đến gần. Khoảng cách càng ngắn, tiêu ném càng chính xác, bất ngờ. 

3. CẦM PHI TIÊU: 

Phi tiêu được nằm gọn trong lòng bàn tay với 4 ngón duỗi thẳng, ngón cái giữ phi tiêu ở vị trí cố định. Đầu nhọn có thể hướng ra phía đầu ngón tay hay quay về phía cổ tay. 

Nếu nhắm vào mục tiêu ở gần, ta để cho phần mũi nhọn ló ra khỏi các đầu ngón tay nhiều và ngược lại, ta cầm phi tiêu với mũi nhọn thấp khi muốn ném xa. 

4. KỸ THUẬT NÉM PHI TIÊU: 

Trước hết, khi ném phải giữ cổ tay thật thẳng. Nếu bạn cong hay quặc cổ tay, mũi phi tiêu sẽ xoáy quá đà trên đường tới đích. 

Kế đến là khoảng cách từ bạn đến đích. Kỹ thuật ném thay đổi tùy theo khoảng cách xa hay gần. Phi tiêu khi được ném ra sẽ xoay theo vòng tròn trước khi chạm đích. Bạn phải tính toán được số vòng quay của phi tiêu tùy theo đích ném xa hay gần. Ở tầm ném gần, phi tiêu chỉ xoay 1/2 vòng trước khi đến đích. Ở khoảng cách xa, phi tiêu sẽ xoay 1 vòng hay nhiều vòng. Nếu ném gần, chú ý cách cầm phi tiêu với mũi nhọn ra khỏi đầu ngón tay nhiều, bước chân bỏ tới rộng, chồm người về phía trước khi ném, phi tiêu sẽ đi nhanh và mạnh hơn. 

Khi ném xa, cầm phi tiêu thấp hơn so với khi ném gần, đứng thẳng người, nhắm kỹ trước khi ném. 

Khi bắt đầu tập luyện, nên đứng gần đích độ vài mét. Nếu bạn cầm phi tiêu mũi nhọn hướng ra phía đầu ngón tay, khi ném nó sẽ bay thẳng tới đích, không xoay vòng. Sau đó bạn bước lui xa thêm vài bước nữa. Cứ thế mà bạn tìm ra khoảng cách thích hợp cho phi tiêu xoay đủ một vòng trước khi đến đích. Với một người tầm vóc trung bình, khoảng cách đó nằm trong khoảng 4-5m. Tiếp tục đứng xa dần đích, tìm khoảng cách thích hợp cho 1 vòng rưởi, 2 vòng và hơn nữa. Nếu bạn thuận tay phải, đứng chân phải trước, khi ném chân trái bước lên. Nếu phi tiêu chạm ngay đích với mũi nhọn hướng lên, bạn bước lui 1 hay 2 bước. 

Nếu phi tiêu chạm đích với mũi quay xuống, bạn bước lên 1 hay 2 bước. Nếu phi tiêu chạm đích với phần đuôi không nhọn hoặc có lúc xoay mũi lên, có lúc xoay xuống, bạn nên chú ý lại cổ tay, có thể bạn đã cong cổ tay khi ném. Mỗi khi tìm ra khoảng cách thích hợp, đánh dấu điểm đứng hay đo khoảng cách đó. Dần dần bạn sẽ quen ước lượng và chọn đúng khoảng cách thích hợp cho mỗi lần ném. Sự chính xác sẽ hoàn thiện dần qua quá trình tập luyện kiên trì. 

5. CHỌN ĐÍCH NÉM PHI TIÊU: 

Việc chọn đích thích hợp để tập ném khá đơn giản. Bạn có thể chọn những miếng ván dầy 4-5cm, dài độ 1-1,2m, đóng dính lại bằng 2 miếng gỗ chéo ở 2 mặt sau. Nên chọn loại gỗ thông vì chúng có độ mềm thích hợp cho việc luyện tập. Gốc cây, bức tường gỗ của căn nhà bỏ hoang... tất cả đều có thể biến thành đích ném, miễn là phi tiêu cắm vào được. Nếu muốn, bạn có thể sơn những vòng đồng tâm trên gỗ để tập. 

6. AN TOÀN TRONG LUYỆN TẬP NÉM PHI TIÊU: 

Dù nhỏ bé nhưng phi tiêu làmột vũ khí nguy hiểm nếu như bạn sử dụng bất cẩn. Trong lúc tập ném, phải hết sức thận trọng, không để người xem đến gần đường ném và đích. Phi tiêu có thể bị nẩy dội khi chạm đích, văng ra chung quanh. Đừng ném bừa bãi vào của cải vật chất công cộng hay cá nhân, cất giữ ngoài tầm tay của trẻ con. 

7. CÁCH LÀM PHI TIÊU: 

Phi tiêu được làm bằng thép, chiều dài 14cm và18cm là thích hợp nhất, nhọn một đầu. Phần nhọn khoảng 2,5cm tính từ mũi. Bạn nên làm nhiều phi tiêu để dễ tập, đỡ mất thời gian phải đi lại thu hồi các phi tiêu đã ném. Các võ sĩ đạo thường mang theo người 5-6 phi tiêu một lúc. 



L.S (NGUỒN Nguyễn Dương Linh Vũ)

Nghiên Cứu Võ Thuật Cổ Việt Nam

A. THUẦN CHÍNH THẬP NHỊ THỦ 

Thuần Chính Thập Nhị Thủ 

Tác giả : Thủy Tiên Công Chúa (1254 – 1329) 

Xuất xứ : Vạn Pháp Quy Nguyên và Đông-A Di Sự (phần Vũ-kinh) 

Dịch, biên tập chú giải : Trần Đại Sỹ 

Với sự trợ giúp của Võ sư Trần Huy Quyền, Võ sư Lê Như Bá 

Copyright by Trần Đại Sỹ – Trần Huy Quyền – Lê Như Bá 

Các soạn giả giữ bản quyền. 

Tout droits réservés. - All rights reserved. 

Tuyệt đối cấm trích dịch, in lại, sao bản chụp hình,nếu không có sự đồng ý của dịch giả 

- Ban biên tập đặc san Liên đoàn Vovinam Việt Võ Đạo Canada đã được sự cho phép của Bác sỹ Trần Đại Sỹ và Vs Lê Như Bá trích đăng hai trang đầu phần giới thiệu về Thuần chính thập nhị thủ 

- Bác sỹ Trần Đại Sỹ là hậu duệ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Trong gia đình ông, các em ông điều là các Võ sư cao cấp của Việt Võ Đạo: Vs Trần Bản Quế, Cố Vs Trần Huy Phong, cố Vs Trần Huy Quyền, Vs Trần Nguyên Đạo.

1. NGUỒN GỐC 

Năm 1280, quân Mông Cổ chuẩn bị sang xâm lăng Việt Nam. Vua ra lệnh cho các vương hầu, tướng sĩ, võ phái đều được mộ binh, tổ chức huấn luyện. Trong hoàng cung, bà Linh Từ (Vương phi của Trung vũ đại vương, lĩnh Thái sư Trần Thủ Độ) họp tất cả các phi tần, công chúa, cung nga, quận chúa lại và ban huấn từ : 

"Giặc sắp đến, các người phải luyện tập võ nghệ để có thể xuất trận chống xâm lăng. Nếu võ không tinh thì ít ra cũng tự bảo vệ được bản thân, không làm bận đến tướng sĩ để bảo vệ" 

Bà chỉ định : Khâm Từ hoàng hậu, Thiên Thụy công chúa (vương phi Hưng Võ Vương, con Hưng Đạo Vương) và Thủy Tiên Công chúa dạy các cung phi, cung nga. Còn công chúa, quận chúa thì đích thân bà dạy. 

Khi dạy võ, Thủy Tiên Công-chúa thấy dạy cương quyền cho phái nữ để chuẩn bị chống với binh sĩ Mông Cổ là loại người to lớn, dũng mãnh, thì khó mà bảo toàn thân thể. Vì vậy bà mới tìm ra tất cả thế nhu, chống lại đủ hình thức tấn công của đối thủ. Sau khi thắng Mông Cổ, bà chép lại thành bộ "Thuần Chính Thập Nhị Thủ" là những phương pháp hiền hậu để tỏ ra mình là người trinh tĩnh, tiết hạnh. 

Năm Xương Phù thứ 11 (1387) Thái sư Trần Nguyên Đán chép vào bộ Đông A Di Sự, chú thích, vẽ đồ hình đầy đủ, và cho khắc bản in. Nay còn lưu truyền. 

2. TIỂU SỬ TÁC GIẢ 

Thủy Tiên Công Chúa là dưỡng nữ Hưng Đạo Vương. Không rõ bà xuất thân từ đâu, cha mẹ là ai. Chỉ biết bà được Hưng Đạo Vương yêu thương nhận làm con nuôi. Bà sinh niên hiệu Nguyên Phong thứ tư (1254) đời vua Trần Thái Tông. Lên sáu tuổi bắt đầu học võ với Hưng Đạo Vương. Sau này bà học với Khâm Từ hoàng hậu (vợ vua Nhân Tông, và là con đẻ Hưng Đạo Vương). Nhưng sự thực tất cả võ công và nội công của bà do Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng và Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản dạy. Hưng Đạo Vương gả bà cho danh tướng Phạm Ngũ Lão. Sử chép rằng võ công của bà được liệt vào hàng thứ 15 đời Trần, trong khi Phạm Ngũ Lão đứng hạng thứ 17, tức võ công thua bà hai bậc. Bà có công huấn luyện võ thuật cho toàn thể cung phi, cung nga đời Trần. Chính vì vậy, khi mà quân Mông Cổ chiếm Thăng Long, các cung phi, cung nga tự bảo vệ, di tản an toàn, không cần hộ tống. 

Tuy nhiên, bà không hoàn toàn đi theo hoàng cung. Bà theo sát phu quân là danh tướng Phạm Ngũ Lão đánh trận Chương Dương, Nội Bàng, sau này cũng chính bà theo phu quân chinh phạt Ai Lao và Chiêm Thành. 

Sách Đông A Di Sự, Thủy Tiên Công Chúa liệt truyện chép : 

"Công chúa mặt đẹp như ngọc, dáng người thanh nhã, tiếng nói khoan thai, lòng đầy nhân ái, nhưng khi xung trận thì dũng mãnh phi thường". 

Bộ Mông Thát Cáo Lục chép : 

"Vợ tướng họ Phạm là con gái của Hưng Đạo Vương, không biết tên là gì, tước phong Thủy Tiên Công Chúa. Thủy Tiên dáng người thanh thoát, mặt đẹp ; nói thông thạo tiếng Mông Cổ âm Hoa Lâm, tiếng Hán âm Lâm An. Khi lâm trận đối đáp với tướng Mông Cổ bằng ngôn từ nhẹ nhàng, nhưng khi giao tranh thì dũng mãnh phi thường. Nhiều tướng Mông Cổ không đề phòng, bị Thủy Tiên giết. Tướng Nguyễn Linh Nhan bị Thủy Tiên bắt sống". 

Lưu ý độc giả, trong tất cả các sách của Trung-quốc viết về cuộc chiến Mông Việt, họ gọi thẳng tên các vua Trần. Như vua Trần Thái Tông họ gọi là Trần Cảnh, trong khi họ gọi Trần Quốc Tuấn bằng tước Hưng Đạo Vương, để tỏ lòng kính trọng. 

Công chúa hoăng vào niên hiệu Khai Thái năm thứ sáu đời Trần Minh Tông (1329), thọ 75 tuổi. Huyền sử Việt Nam kể rằng sau khi mất bà hiển thánh. Cho nên ngày nay tại tất cả các đền thờ Hưng Đạo Vương trên toàn Việt Nam đều có tượng thờ bà. Tại đền thờ nói đến Tứ Vị Vương Tử, Nhị Vị Vương Cô, bà là một trong Nhị Vương Cô. Chính bà đã dùng một chiêu trong Thuần Chính Thập Nhị Thủ bắt một danh tướng Mông Cổ là Nguyễn Linh Nhan, cho nên ngày nay mỗi khi về đồng bà, người ta còn diễn lại tích này. 

Về võ học, bà có để lại các phát minh sau : 

- Thuần Chính Thập Nhị Thủ, 

- Thủy Tiên Liên Hoa quyền, 

- Thủy Tiên Trường Xuân Công, 

- Thủy Tiên Trị Liệu Thủ (phương pháp dùng chỉ lực chữa bệnh, rất thần diệu).(Thất truyền) 

B. LONG HỔ KHÔNG HỒNG 

Thầy Vạn Thanh tên thật là Nguyễn Đông Hải, còn rất trẻ, chỉ mới 35 tuổi, sinh ở xã Nhơn Hoà, huyện An Nhơn, Bình Định. Năm 12 tuổi, Đông Hải đã thí phát xuất gia vào chốn cửa thiền. Sư phụ Tịnh Quang lúc ấy chỉ nhận vỏn vẹn hai đệ tử, một là Vạn Lạc hiện đang trụ trì chùa Lộc Sơn, và người thứ hai tên là Vạn Thanh. 

Sau 4 năm chuyên tâm học kinh kệ, một đêm nọ Vạn Thanh được sư phụ gọi riêng ra và bảo :"Thầy thấy con có tư chất, tính tình điềm đạm, không khoe khoang, có thể học võ được. Nhưng điều quan trọng nhất là con có thích học không?". Vạn Thanh đáp: "Được thầy thương truyền dạy con rất thích ạ". Thế là lúc nửa đêm, một thầy một trò huỳnh huỵch luyện thập bát ban. Xen giửa những buổi thị phạm là những bài học khẩu quyết bằng tiếng Hán cổ, là những lần thầy cầm tay trò rị mọ tô theo từng nét bút những chữ Hán loằng ngoằng, là những câu chuyện về lai lịch của "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp" lẫn xuất xứ của môn phái Long Hổ Không Hồng. 

Vào thời Hậu Lê, ở kinh thành Thăng Long có một nhà sư rất giỏi võ nghệ. Ông đã bỏ công suốt một đời để lặn lội sưu tầm góp nhặt binh thư võ thuật của các bậc danh tướng. Với sở học của mình cộng với những gì sưu tầm được, ông soạn ra pho bí kíp "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp" (tạm dịch nghĩa là: sao chép binh thư võ thuật của những vị tướng qua nhiều đời khác nhau). Hoàn tất pho sách, sợ bị thất truyền, ông lập ra môn phái Long Hổ Không Hồng: Long và Hổ tượng trưng cho "uy" và "mãnh"; không hồng là bao la như ánh mặt trời. Theo môn qui của Long Hổ Không Hồng, mỗi đời chỉ truyền dạy cho một đệ tử, và tên hiệu của những người trong môn phái phải bắt đầu từ chữ "Hư". Nhà sư sáng lập Long Hổ Không Hồng có tên hiệu là Hư Minh. "Lục tướng tằng vương..." ghi lại rất nhiều những bài võ của các danh tướng Việt Nam như Đinh Bộ Lĩnh (Đinh), Lê Hoàn (Tiền Lê), Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành (Lý), Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão (Trần)... 

Chiến tranh loạn lạc thời Trịnh - Nguyễn phân tranh khiến đệ tử các đời của Long Hổ Không Hồng đi dần xuống Nam, và đến thời nhà Tây Sơn thì đã truyền được đến đời thứ tám cho Nguyễn Trung Như với tên hiệu là Hư Linh Ẩn. Sau khi Gia Long diệt được Tây Sơn, bộ "Lục tướng tằng vương..." bị hủy diệt như số phận chung của những pho sách võ khác của đất Bình Định. Và kể từ đây nó chỉ được truyền lại qua trí nhớ của các đời đệ tử Long Hổ Không Hồng. Tính đến thượng tọa Thích Tịnh Quang là đời thứ 12 với tên gọi Hư Linh Thông (đã mất năm 1990), và truyền nhân đời thứ 13 chính là Vạn Thanh - Hư Linh Tử. 

Dù chỉ được truyền lại qua khẩu quyết, nhưng "Lục tướng tằng vương..." cũng được Hư Linh Tử ghi lại gần 150 bài. Tuy nhiên, để nắm hết được lẽ huyền diệu của pho bí kíp này, anh biết mình còn thiếu: vốn chữ Hán cổ còn yếu, sở học về triết lý phương Đông còn non. Thế là năm 26 tuổi, Hư Linh Tử một mình một tay nải vào Sài Gòn tìm học ở khoa Đông Nam Á các trường đại học Sư phạm, Tổng hợp. 

Sau hơn 4 năm đèn sách, Hư Linh Tử đã dần dần lĩnh hội được sự ảo diệu của "Lục tướng tằng vương...", mới thấy được thế nào là trong hư có thực, trong thực có hư của bài "Nghiêm thương" (tương truyền của Nguyễn Huệ) mà trong bí kíp gọi là "sinh linh thao", thế nào là sự cương trực của bài "kích sinh thao", thể hiện trong bài "Lôi long đao" tương truyền của Trần Hưng Đạo. Giờ đây, anh cũng mới thấu hiểu mỗi bài võ trong "Lục tướng tằng vương..." đều có hai mục đích: 

1- Được áp dụng cho chiến trận khi nhìn nó dưới góc độ của bát quái đồ hình dựng, 

2- Một bài múa biểu diễn, rèn sức khoẻ khi tập theo bát quái đồ hình nằm. 

Năm 1997, tròn 30 tuổi, Vạn Thanh - Hư Linh Tử hết duyên với cửa Phật. Anh hạ sơn và từ đây trở thành võ sư Đông Hải - Hư Linh Tử. Cuối năm 1999, Đông Hải - Hư Linh Tử về làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển võ cổ truyền của Sở Thể dục thể thao Bình Định. Bao nhiêu sở học nắm được từ "Lục tướng tằng vương..." anh dốc hết cho các học trò, và đem lại rất nhiều huy chương vàng quốc gia. Chưa kể khá nhiều các đệ tử của anh đã đi biểu diễn võ cổ truyền Việt Nam tận Ấn Độ, Tây Ban Nha, Nga... Từ lò võ chùa Long Phước đã lần lượt xuất hiện hầu hết các võ sĩ cho đội tuyển võ cổ truyền Bình Định (luôn chiếm tỷ lệ 80% cho đến tận bây giờ) với những tên tuổi thành danh tại các giải vô địch quốc gia như Nguyễn Đức Thắng với bài U Linh Thương (thời Lý), Nguyễn Văn Cảnh với bài Tru Hồn Kiếm (thời Lê), Võ Văn Tính với bài Chấn Lôi Âm Tiên (thời Hậu Lê), Trần Duy Linh với bài Lôi Long Đao (thời Trần)... 

C. VÕ PHÁI NHẤT NAM: 

Nhất nam là một môn phái võ thuật có lịch sử phát triển lâu đời của dân tộc Việt Nam. Đất tổ của môn phái nằm trên vùng đất cổ châu Hoan , châu Ái ( tức vùng Thanh hoá , Nghệ an hiện nay ) địa thế như gốc một chiếc quạt xoè ra. 

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, các môn võ , bài võ cổ đã lưu truyền ẩn hiện trong dân gian, trong các dòng họ trau dồi , sáng tạo , giao lưu tiếp thụ những tinh hoa của các môn võ của các dân tộc khác mà hình thành nên những đặc điểm riêng biệt phù hợp với thể tạng và tầm vóc của người Việt nam. 

Phái võ Nhất nam là một môn phái võ có tính qui mô và tính tổ chức cao. Hệ thống môn công đồ sộ , toàn diện: quyền , binh khí, công phu luyện nội , ngoại ... cùng với một hệ thống lý luận về tâm pháp, yếu pháp làm cơ sở và nền tảng lý luận cho người luyện tập, giao đấu và đối nhân xử thế. Hệ thống môn công của phái Nhất Nam được đúc kết, sáng tạo dựa trên sự vận hành của khí huyết , những đặc điểm tâm - sinh lý và cơ chế vận động cơ bắp của con người ; huy động tối đa sức mạnh của bản thân, lợi dụng sức mạnh của đối phương để đánh đối phương. 

Phái Nhất Nam đưa ra các bài tập đặc thù có tính liên tục trong các đòn thế chuyên để luyện các môn công như: tay xà, tay trảo, tay đao, tay quyền... hoặc đặc dị hơn là các bài " Ma quyền " , " Ảo quyền " , " Hoa quyền " ... về binh khí có 9 bài kiếm, 9 bài côn, 5 bài rìu... ngoài ra còn có một môn binh khí độc đáo nữa là " nhung thuật " chuyên dĩ nhu chế cương, sử dụng giải lụa 2 đầu có vật nặng để chiến đấu ; vừa có sự mềm mại uyển chuyển trói bắt binh khí dối phương, vừa có thể công phá mục tiêu với sức khó có binh khí nào đạt tới được. 

Đồng thời với việc học tập và rèn luyện quyền cước , binh khí, công phu nội , ngoại... người học võ Nhất Nam cũng được học tập cả Tâm pháp ; nó là nhưng đúc kết kinh nghiệm xương máu trong chiến đấu , tập luyện và đối nhân xử thế, với nguyên tắc : 

-Học lấy tinh, không cần nhiều 

-Hiểu cần nhiều nhưng luyện ít 

-Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi 

-Giác đầu thành chân thành tay 

-Cần chí hơn lý ở đầu 

Dù công hay thủ người luyện võ không được coi nhẹ môn công nào, từ bộ tay, bộ chân, thân pháp, tấn pháp, thủ pháp, công pháp đến kỹ thuật hoá giải, biến hoá chiêu thức... một thê chứa trăm vạn thế, trăm vạn thế thu vào một thế; dùng tĩnh chế động, dùng động chế tĩnh ; địch không động ta không động, địch động ta động trước, đòn đi sau nhưng đến trước ; dùng ít sức nhưng vẫn đạt hiệu quả cao... 

Trong phái Nhất Nam mỗi một đòn thế đều được phân tích kỹ lưỡng để hiểu được sự hay dở, của mỗi đòn thế; trường hợp nào , khoảng cách nào thì đem lại hiệu qủa cao nhất, khi tấn công mà bị phản công thì phòng thủ ra sao... Do đó việc dạy và luyện võ của phái Nhất nam trên tinh thần : 

-Dạy chí trước môn công 

-Dạy ý trước tay chân 

-Dạy chế công, lấy công làm gốc 

-Dạy chế thủ, lấy thủ làm gốc 

-Biết chế chống công, biết công được chế 

Trong giao đấu cũng như trong cuộc sống thường nhật kẻ luyện võ cần có những nguyên tắc, lý tưởng để chỉ đạo tư tưởng và hành động ; người luyện võ cần hiểu được Đạo của tự nhiên, trào lưu của xã hội, tâm sinh lý con người như vậy mới có thể đưa ra phương châm sử lý đúng đắn trong mọi tình huống. 

" Khéo thua không bị chết 

Giỏi đánh không sợ thua 

Giỏi bày trận không cần đánh 

Giỏi cầm quyền không cần bày trận 

Hiểu đạo không cần dụng binh ." 

Hữu phước (sưu tầm)

Nguồn: vovinamcanada

Bài tập bổ trợ cho các môn sinh

Các bài tập bổ trợ trước khi bước vào thực tập bài dưỡng tâm gia pháp của phái Nhất nam. Tại sao lại cần phải tập qua các bài bổ trợ này , đó là vì : 

- Cơ thể chúng ta từ sau khi sinh ra đã dần dần quen với việc thở bằng ngực do đó cần phải làm quen với việc thở bụng, nếu ngay từ đầu khi mới tập ta đã vận khí dồn ép để mong phình được bụng dưới ra sẽ không có lợi cho việc luyện công, nếu dồn nén khí thái quá có thể gây khí huyết công tâm mà choáng ngất, nội tạng bị xung huyết... 

- Việc vận khí theo kinh mạch là không dễ dàng , nếu ta chỉ đơn thuần tưởng tượng dòng khí chạy theo kinh mạch mà không xác định vị trí cụ thể là các huyệt đạo mà nó phải đi qua thì dù có khổ công luyện tập cũng không thu được thành quả bao nhiêu. 

- Trong luyện tập võ công nhất là trong thời gian luyện nội việc ăn uống, bồi bổ, tàng tích tinh lực là việc bắt buộc nếu người tập không muốn có những biến động không hay . 

Sau đây tôi xin hướng dẫn một số bài tập bổ trợ nhằm giúp các bạn bước vào luyện tập dưỡng tâm gia pháp nhanh đạt thành tựu hơn , các bạn luyện tập các môn khí công nội công khác mà đường lối luyện tập không ngược với phương pháp này đều có thể dùng làm bài tập bổ trợ, những bài tập này rất có ích đối với người mới tập chưa tự làm chân khí phát sinh được.

1. Tập thở : Bài dưỡng tâm gia pháp của phái Nhất nam sử dụng phương pháp thở bụng thuận tức là khi hít vào thì bụng phình ra, khi thở ra thì bụng thót lại, nhưng khi tập thì lại dụng lực vận khí ép chạy theo cột sống do đó dẫn đến nội tạng bị ép trở xuống vào lúc hít vào , bị ép lên cao vào lúc thở ra. Đối với người mới tập thì việc dồn ép này chưa hẳn đã có lợi vì cơ thể không thể thích nghi ngay được, ta cần phải cho nội tạng làm quen với các chuyển động lên xuống có tính chu kỳ này ở mức vừa phải. 

Tư thế: Ta có thể sử dụng các tư thế ngồi, đứng , nằm. Ở tư thế nằm ta dễ cảm nhận được các chuyển động của cơ bụng và nội tạng hơn, khi đứng và đi thì thở ngực ( thở bụng nghịch ) sẽ dễ dàng hơn. Thường thì trước khi tập bạn phải hít sâu vào ngực và thở mạnh ra vài ba hơi để thanh lọc rồi sau đó chú tâm vào cột sống, dùng ý niệm điều chỉnh cột sống uốn nhẹ qua lại, điều chỉnh các tư thế của chân, tay, thân thể...

Hô hấp:

+ Đầu tiên ta phải cho lồng ngực được làm quen với các hoạt động co dãn liên tục để tránh co cơ cục bộ. Hít vào bằng ngực, chú ý là vùng sườn, lưng, ngực, bụng trên rốn giãn ra để hơi tự vào, không được nhô vai hay gồng cứng vai lại có hại về sau, không đậy cuống họng, bụng dưới ( vùng bụng dưới rốn ) thót nhẹ trong quá trình tập. Bạn hay thử hình dung khi bạn quá mệt mỏi sau nhiều ngày đêm không ngủ hay khi bạn bị nháy mũi mà mãi không hắt xì hơi được, cơ thể lúc này sẽ có phản ứng toàn thân căng và giãn ra tại vùng ngực, lưng, sườn, ta có xu thế hơi dướn về trước, không khí sẽ tự động đi vào phổi... Quá trình thở ra có thể tập theo nhiều cách: thở ra nhẹ nhàng bằng mũi, thở ra nhanh mạnh bằng miệng, thở ra chậm rãi bằng miệng ( như đang thổi cái gì đó mà cần dài hơi )... tốt nhất lúc đầu bạn thở ra như kiểu hắt ra để cho cơ thể được rung động theo nhịp thở. Bài này bạn phải tập vừa phải để cho gân, khớp, dây thần kinh... vùng này quen dần với độ căng giãn, nén ép. Về sau có thể hít vào đến hết cỡ, cơ thể cứ giãn ra để hít cho đến khi nào có nhu cầu thở mới thở ra.

+ Sau thời gian làm quen với thở bụng nghịch ( thở ngực, bạn duy trì bài đó để trợ giúp cho các hoạt động). Chúng ta bắt đầu giúp cơ thể làm quen với thở bụng thuận ( hít vào bụng phình ra, thở ra bụng thót lại ). Theo quá trình thở ra - ngừng thở - hít vào - ngừng thở ; thời gian cho mỗi quá trình các bạn tự xác định lấy cho thích hợp với cơ địa của mình, ví dụ như tỷ lệ: 1-3-2-3 các bạn không nên thở một cách tuỳ tiện vì nó sẽ dẫn đến rối loạn quá trình hô hấp vô cùng nguy hiểm. Đầu tiên ta thở ra một hơi dài để thanh lọc các khí trọc ( bẩn ) trong cơ thể ( quá trình này đếm tới 10 chẳng hạn ) sau đó ngừng thở đếm tới 30 , từ từ hít vào đưa hơi thở ( nội tạng chuyển dịch )ép sát theo cột sống đi xuống bụng dưới, bụng dưới phình ra. ( bụng dưới được tính từ rốn đổ xuống ) đếm tới 20 , sau đó ngừng thở đếm tới 30 , rồi từ từ thở ra bụng dưới xẹp xuống , nội tạng ép nhẹ theo cột sống nâng lên hoành cách mạc nâng lên, lồng ngực xẹp xuống làm các phế nang bị ép mà đẩy khí trọc ra ngoài nhiều hơn. Quá trình cứ thế lặp lại dần dần bạn sẽ cảm thấy cơ bụng và nội tạng chuyển động dễ dàng hơn, không có hiện tượng tim bị ép căng thẳng ( hơi cảm thấy tức vùng tim ) .

2. Xác định vị trí huyệt đạo dòng nội khí sẽ chảy qua: Khi hành khí vận công ta cần phải xác định chính xác vị trí các huyệt đạo trên đường khí vận hành qua . Để tập bài dưỡng tâm gia pháp ta xác định huyệt đạo như sau: đỉnh mũi , huyệt ấn đường ( giữa hai đầu lông mày ) , huyệt bách hội ( kéo 2 đường thẳng từ đỉnh 2 tai lên đỉnh đầu gặp mạch đốc là huyệt bách hội ) , huyệt đại truỳ ( nằm giữa đốt xương sống cổ C7 và xương sống lưng L1 chỗ dưới cái xương cổ ngang vai lồi ra ) , huyệt linh đài ( lấy 2 núm vú kéo thẳng vào giữa là huyệt đản trung chiếu thẳng ra sau lưng là huyệt linh đài ), huyệt mệnh môn (đối diện từ rốn ra sau lưng là huyệt mệnh môn ), trường cường ( nằm tại vị trí xương cụt ) , huyệt hội âm ( nằm dưới đáy mình , giữa tiền âm và hậu âm ) khi tới huyệt này thường có một chút tính dục ta không nên giữ ý tại đây lâu nếu định lực chưa cao, huyệt đan điền ( nằm cách rốn 1,5 thốn , từ trước chia ra sau làm 3 thì điểm chia đầu tiên từ trước ra sau được lấy làm tâm điểm của cái quả bóng khí này - tức đan điền ) khi ta ép sát 4 ngón tay từ ngón trỏ tới ngón út vậy thì gốc của các ngón này được tính là 3 thốn , ta giữ ý để xác định vị trí huyệt đan điền lâu một chút vì đây là vị trí quan trọng nhất trong cơ thể, việc nắm giữ được huyệt đạo này là mấu chốt để luyện công , luyện tinh hoá khí nâng cao công lực đạt đến trình độ cao hơn , sau đó đưa ý tới huyệt đản trung, huyệt thiên đột ( nơi yết hầu ), huyệt thừa tương ( giữa cằm ) , rồi quay lại huyệt ấn đường cứ thế lần lượt xác định huyệt vị theo thứ tự vòng vận khí lặp đi lặp lại . 

3. Vận động cột sống và nội tạng bằng động tác : cả 2 bài này động tác phải liên tục , tròn trịa , mềm mại 

- Vận động phần dưới cơ thể : Đứng chân rộng bằng vai, hai tay chống vào eo, đẩy hông sang trái == > ra sau người hơi cúi xuống == > sang phải == > ra trước người hơi ưỡn ra trước == > sang trái , cứ thế lặp đi lặp lại 64 lần rồi quay ngược chiều lại. Động tác này làm vận động các khớp vùng eo, hông và nội tạng vùng này . 

- Vận động nửa trên cơ thể : Đứng trung bình tấn 2 tay chắp vào nhau như khi ta chắp tay để cúng lễ vậy sau đó đưa ra trước mũi bàn tay hướng về phía trước, người hơi gập xuống ==> đưa sang trái người đổ sang trái ==> đưa về đằng sau người ngửa ra phía sau ==> đưa sang phải ==> đưa về đằng trước ==> quay ngược chiều trở lại 

- Gập về trước, ngửa ra sau: đứng chân rộng bằng vai, cứ gấp người về trước đầu nằm ngang mắt nhìn lên, sau đó ta lại ngửa người ra sau. Tập liên tục vậy nhiều lần.

- Gập ngang hai bên: Hai tay giơ thẳng trên đầu , lòng bàn tay đối nhau, gấp ngang thân qua phải rồi lại gấp qua trái, chú ý cho phần eo sườn được căng giãn càng nhiều càng tốt. 

- Vận động nội tạng: 2 tay áp vào thành bụng ép xuống và đẩy nội tạng chạy theo chiều kim đồng hồ 12 vòng rồi đẩy theo chiều ngược trở lại. Đến khi cơ bụng bạn khoẻ bạn có thể chuyển dịch được mà không cần đặt tay để hỗ trợ.

L.S
(NGUỒN VOVINAMUS)

BẢN SẮC MÔN VÕ LÂM TÂN KHÁNH – BÀ TRÀ


Môn Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà có đủ kỷ thuật quyền cước và binh khí như các môn Võ Việt Nam khác.

Về binh khí , môn Võ Lâm có mười tám loại chính ( còn gọi là thấp bát an võ nghệ như sau:
1. Đao 

2.Thương 

3. Kiếm

4. Kích 

5. Đảng 

6. Côn

7. Quải 

8. Liêm 

9. Trảo

10. Câu 

11. Xoa 

12. Ba

13. Tiên 

14. Giản 

15. Chuỳ

16. Phủ 

17. Cung , tiển 

18. Đẳng bài.

Ngoài ra , còn có mười hai loại binh khí phụ khác ( gọi là thập nhị phân cơ), như : thiết lĩnh , khăn quấn đầu, sợi dây…
Binh khí đả hổ của môn Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà trong những phe đả hổ và phá cướp : côn ,tiên và trường thương.
Quyền cước trong Tân Khánh Bà Trà thì gồm: bộ pháp , thân pháp , cước pháp , thủ pháp , quyền pháp và đấu pháp , được phân ra nhiều trình độ từ thấp lên cao. Võ Lâm Khánh Bà Trà cũng có nhiều công phu phu như : ngoại công , khí công , điểm huyệt , giải huyệt và y lý dành cho môn sinh cao cấp.
Các môn võ Trung Quốc trong mỗi bài quyền và binh khí đều có thiệu để ghi tên đòn thế, nhưng không là một bài thơ như trong các bài võ Việt Nam. Nói khác đi, một đặc điểm của các bài quyền và binh khí của các môn võ Việt Nam, trong đó có môn Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà, là luôn luôn có bài thiệu ghi tên những đòn thế trong bài là một bài thơ làm theo các thể: tứ tự (mỗi câu bốn chữ), ngũ ngôn( mỗi câu năm chữ), thất ngôn(mỗi câu bảy chữ), lục bát(câu sáu chữ liền với câu tám chữ), song thất lục bát(hai câu bảy chữ liền với hai câu lục bát)… Ở những bài thiệu làm theo thể lục bát hay song thất lục bát, các từ trong câu hầu hết là từ Việt thỉnh thoảng xen một vài từ Hán Việt, còn ở các bài thiệu làm theo những thể thơ khác thì đều là từ Hán Việt:
-Thủ chấp thần đồngNgư ông trì thế
Hổ bộ si phongPhản hồi toạ địa… (bài quyền Thần Đồng)
-Chấp thủ lập đồng nhi
Khuynh thân bạt thủ chi
Tiền tấn du luân thích
Đình bộ lập song phi… (bài quyền Bát Tiên)
-Tấn nhứt trung bình đả số biên
Tàng sương giáng hạ thích đương tiên
Toạ tả toạ hữu giai trùng nhị
Tấn khởi tề mi phụng võ tiền… (bài côn Tấn Nhứt)
-Chống roi đứng thủ thần đồng
Bắt qua bên trái đánh càn hai bên …
(bài roi Thần Đồng).
Trong kho tàng võ thuật của môn Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà có nhiều bai quyền và binh khí trùng tên với các bài trong môn võ Tây Sơn, nhưng thiệu và những đòn thế kỹ thuật của những bài trong Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà có phần nhiều hơn: bài côn Tấn Nhứt trong võ Tây Sơn có tám(8) câu thiệu thì bài côn Tấn Nhứt trong Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà lại có tới mười sáu câu thiệu (16), bài quyền Thần Đồng trong võ Tây Sơn có mười hai câu thiệu (12 thì bài quyền Thần Đồng trong Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà lại có đến mười tám câu thiệu (18)…
Ngoài ra, trong Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà cũng ẩn hiện, chan hoà kỷ thuật các môn võ: Trung Quốc (Thiếu Lâm). Chân Lạp, đặc biệt là trong các nghi thức chuyên môn.
Bản sắc của môn Võ Lâm Tân Khánh Bà trà còn là ở kỷ thuật chiến đấu và phương pháp tập luyện.
Trong chiến đấu, Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà có đủ các kỷ thuật:công, thủ, phản, biến, với những cự ly chiến đấu gần xa nhau, bằng cả kỹ thuật đòn chân lẫn đòn tay, đòn đôi, thuận, nghịch, bay nhảy, song đấu, hỗn đấu (đấu với nhiều người). Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà chú trọng cách đách liên hoàn, nhanh lẹ, phối hợp nhịp nhàng tay chân, công kích bám sát đối phương để đạt hiệu quả cao, trong thế công đã ngầm thế thủ, và trong thế thủ đã chứa thế công.Cái đẹp trong Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà là công kích trung mục tiêu chớ không phải ở chỗ múa quyền, đánh lớp cho huê vạn. Đó phải chăng là tính thực tế phảng phất tinh thần những người đi khai phá?
Trên lãnh vực tập luyện, môn Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà giúp cho người tập rèn luyện được thể lực, ý chí, bình tĩnh và lòng quả cảm. Giáo trình và kỹ thuật huấn luyện của môn Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà mang tính thực tế nhanh chóng giúp cho người tập đạt hiệu quả tốt về rèn luyện thể lực, tự vệ và chiến đấu, mang dấu ấn đặc tính thể tạng của từng người.
Tóm lại, Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà được sáng tạo tổng hợp từ những kinh nghiệm chiến đấu, va chạm thực tế của người Việt trên bước đường mở nước, một nghệ thuật nhỏ chống lớn, ít chống nhiều, khôn ngoan, quyền biến lanh lẹ áp chế địch thủ, thích hợp với tâm lý, thể tạng và hoàn cảnh sinh hoạt của người Việt Nam. Bên cạnh đó, Võ Lâm Tân Khánh Bà trà cũng bằng bạc nét huê vạn của các môn võThiếu Lâm (Trung Quốc) và môn Võ Dân Tộc Chân Lạp (Campuchia) trong từng kỹ thuật diễn quyền cũng như chiến đấu, phảng phất một thời khai phá vùng đất mới Đồng Nai mà ba dân tộc cùng chung sống.
(Trích trong sách “Võ thuật phái Tân Khánh” của võ sư Từ Thiện – Hồ Tường, do Nhà xuất bản tổng hợp Sông Bé ấn hành, năm 1989).